Hỗ trợ trực tuyến
Phụ trách kỹ thuật
Phụ trách kỹ thuật
Phụ trách nội dung
Phụ trách nội dung
Thống kê truy cập
   Trực tuyến : 67
   Tổng số truy cập : 2811378
   Tổng số Hits : 3032274
Huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình: văn hóa, lịch sử 4/21/2012 12:37:00 PM (Giới thiệu nhân tổ chức văn hóa đọc với nông thôn lần thứ ba, chủ đề: Văn hóa, tín ngưỡng dân gian)

Huyện Quỳnh Phụ nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Bình, giáp với Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, cách trung tâm Hà Nội chừng 90km, được sát nhập từ hai huyện là Quỳnh Côi và Phụ Dực năm 1969. Đây là vùng đất cổ của Thái Bình, nằm ven sông Luộc, sông Quỳnh Côi (Hóa Khê), sông Hóa….với nhiều tư liệu quí về văn hóa dân gian, lịch sử, phong thủy, mỹ thuật, văn hóa, tâm linh…cổ truyền chưa được khảo sát.

(dành cho khách xuất phát từ Hà Nội)

Thời gian: 1 ngày; Vận chuyển: ô tô hoặc xe máy


5h30 – 6h00
: Tập trung, tự do ăn sáng, khởi hành đi huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Theo quốc lộ 5, tới ngã tư Quán Gỏi (khu vực thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), rẽ phải đi Thanh Miện, Quỳnh Phụ. Qua thị trấn Thanh Miện chừng 9 km, tới ngã tư đảo Cò. Rẽ phải 4 km là đảo Cò – vốn là khúc uốn cũ của sông Cửu An sau trận lũ lớn, nay là nơi cò, vạc trú ngụ, thuộc vùng Mè, Trại (xã Chi Lăng Nam, Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương).

Theo truyền thuyết thì nơi đây là khởi nguồn long mạch cả vùng. Rồng đất mẹ và hai rồng con bị thánh Tả Ao đuổi, đã chạy về bến Trại (từ ngã tư đảo Cò, đi thẳng chừng 4 km là bến Trại, rẽ trái lên bờ đê đi chừng 4 km là đò gốc Mít, phà Hiệp đi Quỳnh Phụ), rẽ phải là chừng 20 km là phố Hiến (Hưng Yên). Sau khi vượt sông Luộc, chạy dọc theo tỉnh lộ 217 thì nổi lên ở đống con Quạ (ngã tư Bạt, thị trấn Quỳnh Côi, trước đây chánh tổng Hữu giàu bậc nhất trong vùng đặt mồ mả gia tiên tại đó, sau bị san phẳng làm sân vận động), thì đàn rồng chia hai: một rồng con theo tỉnh lộ 216 về khu miếu bà Vú Sữa, chùa Thanh Hương, đình làng Lê Xá, xã Quỳnh Hải, rồng mẹ và rồng con về thôn Nam Đài (làng Rồng), xã Quỳnh Bảo, nổi lên ở hàm rồng (miễu Thóc) và đống đầu rồng (miễu Rồng), chầu sang thế đất Ly, Qui, Phượng ở làng Hải Triều (Hới), Trình Nguyên (Chiềng) đều thuộc xã Quỳnh Nguyên.

Về Quỳnh Phụ, tiện nhất là rẽ trái chừng 5 km tới biển báo phà Hiệp 3 km, rẽ phải đi phà Hiệp, qua sông Luộc.

Sông Luộc còn gọi là sông Phú Nông, dài chừng 80 km, bắt nguồn từ ngã ba Hải Triều (chiếu Hới, quê hương Nguyễn Thị Lộ) và phố Hiến chảy giữa Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình và kết thúc ở giao với sông Thái Bình ở khu vực huyện Tiên Lãng, Hải Phòng và đổ ra biển ở cửa Thái Bình gần làng Nam An của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm; đây là chi lưu quan trọng bậc nhất nối giữa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, tuyến đường thủy quan trọng nối Thăng Long xưa với Hải Đông. Cuối thế kỷ 17, khi lánh Tây Sơn về quê vợ ở làng Hải Triều (Hới), nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, qua sông Luộc, Nguyễn Du có làm bài thơ Độ Phú Nông giang cảm tác:


“Nông thủy đông lưu khứ

Thao thao cánh bất hồi

Thanh sơn thương vãng sự

Bạch phát phục trùng lai

Xuân nhật thương thuyền hợp

Tây phong cổ lũy khai

Du nhân vô hạn cảm

Phương thảo biến thiên nhai” (Phần Mười năm gió bụi, Thanh Hiên thi tập – chữ Hán)


Dịch thơ (bản dịch của Nguyễn Thanh Giang)

Phú Nông dòng nước tràn trề

Luôn luôn chảy mạnh xuôi về biển Đông

Non xanh việc trước đau lòng

Bạc đầu ta lại long đong chốn này

Thuyền buôn xuân tới họp đầy

Lũy xưa bỏ trống gió Tây lạnh lùng

Khách qua cảm động khôn cùng

Chân trời man mác một vùng cỏ thơm


Dịch thơ (bản dịch của Đào Duy Anh)

Nông thủy về Đông chảy

Ào ào chẳng trở lui

Non xanh thương việc cũ

Tóc bạc lại về nơi

Xuân ấm thuyền buôm họp

Gió vàng lũy cổ phơi

Khách qua bao cám cảnh

Cỏ tốt suốt chân trời


.


Cách phà Hiệp chừng 500 về bên trái, cạnh bờ đê sông Luộc là chùa Tông (dân trong vùng quen gọi là chùa Trông), ở thôn Hán Lý, xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thờ thiền sư Không Lộ (thời Lý), vì đây là quê mẹ ông. Đây là ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng trong vùng, với tam quan khá đồ sộ (tuy chùa trong mới được sửa lại bằng beton cốt thép và không đẹp), “đức thánh chùa Tông, đức ông chùa Rào” (chùa Rào thuộc thôn Ngõ Mưa, Vạn Niên, nay thuộc xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đối diện bên kia sông); hiện có hàng chục cây lưu niệm do lãnh đạo cấp cao trung ương và địa phương trồng. Bên phải, cách phà Hiệp chừng 500 m là quê hương và đền thờ cha con Khúc Thừa Dụ - người đặt nền móng cho độc lập, tự chủ của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc.

Qua phà Hiệp là khu phố bến Hiệp – quê hương của PTT Hoàng Trung Hải.

Cách đây chừng 60 năm, khu phố Hiệp có chừng 40 người Hoa sinh sống, nhưng là đầu mối buôn bán, xuất khẩu thóc gạo của toàn tỉnh Thái Bình, xuất đi Ninh Giang (Hải Dương), Hải Phòng; nay di tản hết, còn 1-2 người sống lẫn trong làng, cắt thuốc Bắc hoặc làm ruộng. Bên trái chừng 500 là thôn Ngõ Mưa (Vạn Niên), xã Quỳnh Hoàng – quê hương Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ và của những anh hùng trong chiến tranh chống Mỹ (câu nói: “ra ngõ gặp anh hùng” phải chăng xuất phát từ đây, vì một ngõ nhỏ có vài anh hùng).

Từ bến Hiệp, đi thẳng theo tỉnh lộ 217 chừng 300 m, bên trái là ngã ba Hàng - khu lăng mộ người Hoa (còn một số mộ lớn trong làng An Hiệp, Sơn Đồng, xã Quỳnh Giao; trong làng cũng có một số bia thời Mạc tại chùa) được một dòng sông cổ uốn quanh, bao bọc. Khi người Hoa sinh sống tại đây, đã mua đất này đặt lăng mộ. Hiện nay, dù tản mát đi hết, nhưng 5/5 âm lịch hàng năm, người Hoa đều về đấy cúng tổ tiên bằng vịt sống. Bên phải, đối diện với ngã ba Hàng là thôn Hào Long (xã Quỳnh Giao). Cách đây chừng 100 năm, khi người Pháp cho đắp đường 217 từ bến Hiệp về Quỳnh Côi đi ngã ba Đợi (cắt quốc lộ 10 từ Nga Sơn, Thanh Hóa đi Quảng Ninh), nhiều dân thôn Hào Long phải đi phu phen tạp dịch và vì thế có câu đối (tương truyền tới nay chưa ai đối được): “Gái Hào Long gánh đất đường rống (liên quan tới câu chuyện đàn rồng vượt sông), vì thương chồng nên phải đi phu”.

Đi thẳng 1 – 2 km là tới ngã tư Bạt, thị trấn Quỳnh Côi, huyện lỵ huyện Quỳnh Phụ, được thành lập năm 1894 dưới triều vua Thành Thái, sau khi dời trung tâm huyện lỵ từ thôn An Phú, xã Quỳnh Côi cũ (nay là thôn An Phú/làng Đó, xã Quỳnh Hải về). Thị trấn được mệnh danh là thị trấn dâu da vì tháng Ba hàng năm, cả thị trấn trắng xóa hoa dâu da và có món canh cá thơm, ngon; trước đây có tòa đền Bách Linh của cả huyện (năm hạn hán, quan huyện sức cho hào lý các thôn trong toàn huyện phải rước kiệu thánh, thần tới tễ lễ, sau bị triệt hạ, nay là khu rạp 19/5 và ngân hàng Nông nghiệp).

Từ ngã tư Bạt (đống con Quạ, nay là sân vận động nơi đàn rồng nổi lên và chia đôi), đi thẳng chừng 1 km tới thôn An Phú (làng Đó), xã Quỳnh Hải – trung tâm xã Quỳnh Côi, tổng Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Côi hơn 100 năm về trước; quê hương của liệt sĩ Nguyễn Thái Sơn – bí thư thành ủy Sài Gòn - Gia Định những năm 1970; nơi có những gánh chèo, tuồng từng đi biểu diễn trong và ngoài tỉnh, lên tận Thái Nguyên, Bắc Cạn; nay là trung tâm sản xuất rau, hành, ớt, tỏi lớn bậc nhất miền Bắc . An Phú còn dấu tích của huyện lỵ xưa: khu đất dinh quan huyện, bến Quỳnh Côi (bến Cầu Tre), cầu thượng gia hạ kiều Bát Nóc, văn chỉ huyện Quỳnh Côi, từ chỉ tổng Quỳnh Côi (đã bị triệt hạ) và một số di tích khác…

8h00: Tới Không gian đọc – thư viện miễn phí dành cho cộng đồng ở nông thôn, đặt tại nhà anh Nguyễn Văn Quân làm thầy thuốc Đông y. Sau một năm thành lập, hiện Không gian đọc đã mở được 3 điểm tại huyện Quỳnh Phụ (1 điểm ở thôn An Phú – trung tâm huyện với chừng 1000 bạn đọc thường xuyên, 2 điểm ở phía Bắc và phía Nam huyện). Trò chuyện, nghỉ ngơi.

8h30: Thăm khu di tích thôn Lê Xá gồm: miếu bà Vú Sữa, chùa Thanh Hương và đình làng. Theo truyền thuyết, một rồng đất con đã tách đàn, chạy tới đây. Trước đây, miếu bà Vú Sữa nằm trên đầu rồng, vốn nổi tiếng linh thiêng, có bia hạ mã, ai sinh con, mất sữa đến cầu khấn là ứng nghiệm, sau bị phá hoàn toàn, hiện là khu trường học. Chùa Thanh Hương bị triệt hạ, đình bị phá tiền đường, mới được phục hồi lại một phần. Theo dân trong vùng, thì khu đất này đã bị người Tàu yểm, cắt long mạch. Cách đây chừng 30 năm, khi người ta đào đất, dựng trường đã phát hiện ra một con ngựa sắt khá lớn bị han gỉ.

9h00: Tới làng Hải Triều thăm khu nhà cũ của cha con tiến sĩ thời Lê – Trịnh – Tây Sơn Đoàn Nguyễn Thục, Đoàn Nguyễn Tuấn, bố và anh vợ của đại thi hào Nguyễn Du. Nơi đây cũng là quê hương của Lê triều khâm sứ, Hiến cung đại phu hữu tham nhị tán trị an Quảng xứ Nguyễn (Xuân) Du, Trần Kế Đa (văn thân chống Pháp 10 năm trời) và là nơi Nguyễn Du ở ẩn gần 10 năm, lánh nhà Tây Sơn. Nguyễn Du sáng tác nhiều bài thơ trong thời gian này, nổi bật là Quỳnh Hải nguyên tiêu (vì gần biển, nên ông gọi Quỳnh Côi là Quỳnh hải):


“Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên

Y y bất cải cựu thuyền quyên

Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc

Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên

Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên

Cùng đồ lương nhữ dao tương kiến

Hải giác thiên nhai tam thập niên”

Dịch thơ (bản dịch của Nguyễn Thanh Giang)

Nguyên tiêu sân quạnh trăng đầy

Trăng xinh trăng đẹp những ngày vui xưa

Nhà ai trăng đã ghé chưa

Quỳnh Châu trăng sáng cũng vừa tròn gương

Hồng Lam tán lạc chia đường

Bạc đầu hận tháng năm trường phôi pha

Cùng trăng ta lại cùng ta

Ba mươi hải giác thiên nhai cuộc đời.


Trước đây, dinh cơ của tiến sĩ Đoàn Nguyễn Thục rộng vài mẫu, có ao 7 sào nối thông với sông Xích Bích, Kênh Hoàng nối với sông Luộc, nay không còn dấu vết, chỉ còn ngôi mộ nhỏ giữa đồng và một am nhỏ do người dân mới lập. Cách đây 1 – 2 năm, bảo tàng Văn học Việt Nam về mua lại chiếc án gỗ - tương truyền của Nguyễn Du. Từ đây sẽ nhìn thấy đầu rồng (miễu Rồng) và hàm rồng (miễu Thóc), chùa Rồng – ngôi chùa nhỏ nhưng có kiến trúc độc đáo, không phải hình chữ Đinh hay chữ Công, chữ Tam như nhiều ngôi chùa miền Bắc mà như một chuôi vồ và có một số bia đá cổ.

9h30: Về La Vân (xã Quỳnh Hồng), thăm di tích chùa, đền La Vân gắn với Lý triều quốc sư Nguyễn Minh Không, sự tích bèo hoa dâu và đình Ngọc Đới thờ Khổng Tử, miếu thờ Bao Công và Tô Hiến Thành.

Tương truyền, ban đầu, thiền sư Nguyễn Minh Không trụ trì ở chùa Cổng (chùa trong), sau mới chuyển sang chùa ngoài. Đây là ngôi chùa nhỏ, nhưng kiến trúc lạ, không phải hình chữ Đinh hay chữ Công, chữ Tam như nhiều ngôi chùa miền Bắc mà như một chuôi vồ và đặc biệt có bệ đá hoa sen cổ. Bệ đá cao chừng 1,2 – 1,5 m, rộng 2 m, chạm hoa sen, sóng nước, rồng mây, bốn góc có chim thần đội, có thể từ thời Lý. Chùa La Vân ngoại (dân hay gọi là đền, vì có bia hạ mã, nghi môn và tả vu, hữu vu chăng?) nằm trên khu đất cuối làng, khá rộng rãi, kiến trúc đồ sộ bậc nhất trong vùng, hình chữ Công, tuy nhiên có thể là đời Nguyễn, trong cùng là cung cấm thờ thánh Nguyễn Minh Không. Lễ hội hàng năm mở từ 20 – 30/3 âm lịch, là lễ hội lớn trong vùng, có trò kéo chữ, đánh gậy…Dân trong vùng vẫn cho rằng đền thờ đức thánh Khổng (thiền sư Không Lộ), nhưng theo Ngô Vị Liễn trong Địa dư huyện Quỳnh Côi (in năm 1933), đã phụng khảo bia tại đền thì lại thấy thờ thiền sư Nguyễn Minh Không. Điều này liên quan tới chùa Tông (chùa Trông) bên kia sông. Theo dân làng, khi thiền sư Không Lộ tới đây tu hành, bị bạc đãi, đã đan hai sọt lớn, gánh lên vai và niệm chú, toàn bộ tượng trong chùa nhảy vào sọt, ông bay sang bên kia sông Luộc, lập chùa mới, dân làng biết tin, hối hận thì đã muộn, nên nhìn sang bên kia sông, gọi chùa mới là chùa Trông.

10h30: Thăm đình đá làng Vược (xã An Hiệp) và chùa Đào Xá (xã An Đồng), nằm cạnh triền sông Luộc và sông Hóa. Đây là vùng di tích khá dầy gắn với thời Trần, với những địa danh: A Sào, Bồ Trang (Bái Trang), Đại Nẫm, Tiên Bá…

Do không đủ thời gian, nên khó có thể thăm đền vua Bà (thôn Bái Trang, xã Quỳnh Hoa) thờ 3 vị âm thần và công chúa Thiên Cực (Trần Thị Dung), công chúa Thiên Ninh (chị gái vua Trần Nghệ Tông) thời Trần. Dân làng thì vẫn cho rằng đền vua Bà thờ 3 vị âm thần, nhưng bằng di tích lịch sử văn hóa của tỉnh và bài vị thờ trong đền đều ghi là công chúa Thiên Cực và công chúa Thiên Ninh. Theo một số sách thì công chúa Thiên Ninh, chị gái vua Trần Nghệ Tông đã mộ dân lập ấp tại đây, đặt tên là Bồ Trang. Khi có biến Dương Nhật Lễ, bà đã kéo quân về Thăng Long, dẹp loạn, đưa em mình là Trần Phủ lên ngôi vua, nên sau được vua đặt tên mới cho thái ấp là Bái Trang (có ý ví như Bái Ấp của Hán Cao Tổ bên Tàu). Cách đền vua Bà chừng 500 m, theo đường đê sông Luộc là nghè vua Ông thờ ông Trần Công Trọng, thời Lý. Trước đền là khu xóm cháy. Dân làng kể, trước đây năm nào ở xóm cũng xảy ra hỏa hoạn, nên phải mời thầy về yểm đảo bằng kiếm đá, chó đá, sau hết, nhưng xóm cũng dời đi nơi khác. Đền vua Ông nằm ngoài bãi sông Luộc, mới được trùng tu sau gần 30 năm hoang phế. Dưới bệ thờ trong hậu cung có một giếng sâu, tương truyền thông với sông Luộc.

Thăm đình đá làng Vược, đây là ngôi đình đá duy nhất còn lại hiện nay (trước đây là xã Thanh Nê, huyện Kiến Xương cũng có một ngôi đình đá, nhưng đã bị phá trong kháng chiến chống Pháp), với tường đá, cột, kèo đá. Đình không sánh được với nhà thờ đá Phát Diệm, nhưng to hơn đền đá Thái Vi (Ninh Bình).

10h45: Thăm chùa Đào Xá, xã An Đồng, nơi lưu giữ 10 pho tượng đá thời Mạc mà sinh thời giáo sư Trần Quốc Vượng đánh giá là tuyệt đẹp. Trước đây, chùa Đào Xá nằm giữa đồng, tựa lưng vào sông Hóa, một mặt hướng ra sông Luộc, nhưng đã bị triệt hạ, phải dời vào làng, mượn đất đình. Cạnh đình, chùa Đào Xá là miếu thờ thánh mẫu Liễu Hạnh, điều đặc biệt là có cây thuốc lạ, cổ thụ: cây đơn lả. Cây này chữa mụn nhọn, ghẻ lở, vết thương, nhựa rất dính, có thể dán diều…Một số thầy thuốc Đông y trong vùng và Hà Nội, tra cứu trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS Đỗ Tất Lợi cũng không biết cây thuốc này. Theo ông từ coi đền thì hàng năm, nếu cây sai nụ, lá thì được chừng 1 tạ, còn không chỉ vài chục kg, nhưng người Trung Quốc đều sang mua hết.

Cạnh chùa Đào Xá là đền Lộng Khê thờ thiền sư Không Lộ và thái úy Lý Thường Kiệt, ở thôn Lộng Khê (làng Nhống), Hiệp Lực (làng Nhảy), xã An Khê. Ở đây, trong lễ hội hàng năm có lễ rước cây đình hiệu (bó đuốc khổng lồ), múa Bát Dật (điệu múa cổ thời Lý, tương truyền vốn của cung đình với 64 vũ nữ > 32 > 16 vũ nữ), hát ống. Cách đây chừng 10 năm, bà Ea Sola đã về mời 8 nghệ nhân múa Bát Dật, hát chèo của làng và các nghệ nhân múa giáo cờ, giáo quạt – tương truyền có từ thời Trần, ở xã Đông Tân, Đông Hưng, dựng vở Hạn hán và cơn mưa, biểu diễn tại hàng chục nước trên thế giới. Trước mặt đền là ngã ba sông Luộc – sông Hóa (sông Tranh), bên kia sông là đền quan Tuần Tranh – một điểm thờ tự quan trọng của đạo Tứ Phủ (thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) - gắn với sự tích ông Cộc, ông Dài.

11h15: Thăm đền A Sào (xã An Thái) gắn với đức thánh Trần và con voi chiến trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần hai. Ngôi đền mới được trùng tu, đằng sau là bến Tượng, dựa lưng vào sông Hóa. Tương truyền, khi Trần Hưng Đạo cưỡi voi vượt sông thì voi bị sa lầy khi thủy triều lên, phải giã biệt ra đi. Vương đã chỉ kiếm xuống sông nói : chuyến này không phá được giặc, quyết không về bến sông này nữa. Đây cũng là vùng đất mà Trần Hưng Đạo được giao trấn nhậm thời trẻ, vì thế đã được vua Trần Anh Tông cho lập đệ nhị sinh từ (đứng sau Kiếp Bạc).

11h30: Thăm đền Đồng Bằng (thôn Đào Động), thờ vua cha Bát Hải Động Đình, một trong những nơi thờ tự quan trọng nhất của đạo Tứ phủ: Cả một hệ thống thờ thủy thần quay mặt ra sông Diêm Hộ và ngã ba sông Hóa Khê (Quỳnh Côi) – Diêm Hộ. Đây là nơi đứng đầu trong 4 cảnh đẹp nổi tiếng của huyện Phụ Phượng (Phụ Dực) thời Lý: Đào Động – Lộng Khê – Tô Đê – Tô Đàn (thuộc xã An Mỹ, nơi có nhiều tiến sĩ của huyện Phụ Dực thời xưa). “Tháng Tám giỗ cha” (20/8 âm lịch) hàng năm là lễ hội chính của đền và là một trong ba lễ hội lớn nhất tỉnh Thái Bình. Nơi đây cũng là trung tâm hát chầu văn như Phủ Giầy (Nam Định). Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần 2, Trần Hưng Đạo đã hội quân tại đây (còn địa danh: cầu Vật, đầm Bà) và nhận người con gái thôn Đào Động làm con nuôi, đặt tên là quận chúa Anh Nguyên, sau gả cho Phạm Ngũ Lão. Tương truyền, ông đã vào đền Đồng Bằng cầu khấn trước khi xuất binh. Vì thế, quanh vùng có nhiều di tích liên quan tới tướng lĩnh nhà Trần: đền Trần ở Vũ Hạ (An Vũ), đền thờ công chúa Huyền Trân ở làng Lầy (An Ninh - huyện lỵ cũ của huyện Phụ Dực xưa). Ngoài ra, nơi đây còn một số nghệ thuật, đời sống thú vị như: làng tuồng nổi tiếng Vũ Hạ, chợ bán chiếu đêm Đồng Bằng (An Lễ), chợ Go (An Vũ), chợ An Tràng.

12h00: Thăm rừng nguyên sinh miếu Go (thôn Vọng Lỗ, An Vũ), thờ Sơn Tinh và có trò đánh Bệt (đuổi hổ) trong lễ hội hàng năm: Đây là một trong hai mảnh rừng nguyên sinh hiếm hoi còn sót lại Thái Bình (cùng với khu đền vua Rộc – huyện Kiến Xương), còn sót lại một số cây cổ thụ: lim, si, đa, cây gỗ đẻ. Miếu Go không lớn, kiến trúc có thể đời Nguyễn, nhưng có một sập đá khá to, khá đẹp và thú vị nhất là 4 con sấu gỗ đội tàu mái lá với 4 vẻ mặt, tư thế khác nhau (mới bị đánh cắp một con).

12h30: Về Không gian đọc, ăn trưa, nghỉ ngơi.

14h00: Thăm chùa Thanh Quang, tương truyền được xây dựng từ thời Mạc, vì có bia đá trong chùa do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm chắp bút: Chùa nằm ở rìa làng, hình chữ Đinh, trước đây bên phải là đống đất cao (dân làng hay gọi là đống Con Hỏa, nay đã bị san phẳng), nhìn ra phía trước là ao Mô rộng, thoáng và cánh đồng (nay đã bị lấp gần hết). Chùa Thanh Quang không lớn, nhưng có kiến trúc khá độc đáo nhờ hệ thống thềm cao và hiên rộng (gần 2 m) cùng hệ thống tượng Phật khá đẹp (đẹp nhất là hai pho Kim Đồng, Ngọc Nữ quỳ, xiêm y và vẻ mặt như tượng Kim Đồng chùa Dâu, Bắc Ninh, nhưng đã bị đánh cắp gần 10 năm trước). Tuy nhiên, chùa bị xuống cấp khá nhiều, mới được trùng tu kiểu chắp vá, tạm bợ. Mới đây, chùa sơn đỏ lại hiên chùa và tô lại tượng đỏ rực, vàng chóe, khiến không còn nét xưa. Trong khuôn viên chùa trước đây có từ chỉ hàng tổng Quỳnh Côi (còn gọi là đình Nho Lâm), nhưng đã bị phá.

Sau chùa là đình làng: Đây là ngôi đình lớn vào bậc nhất trong vùng, có kiến trúc kiểu nhà sàn (rất giống đình Mông Phụ, Đường Lâm), nằm trên thế đất con rùa, đầu hướng về Đông (trên đó là một ông lầu, dân làng chê là đình nằm ngược, vì quay mặt ra mui rùa); nhưng 50 năm trước đã bị phá tòa tiền tế, ống muống, chỉ còn hậu cung và hai toà tả vu, hữu vu bị xuống cấp trầm trọng. Trước đây, quanh đình có nhiều ao hồ, giếng, bốn góc đình là bốn cây trôi (quéo)/ muỗm rất lớn, cao hàng chục mét, nhưng cũng bị phá hết. Trước đây, lễ hội mở vào xuân thu nhị kỳ, có diễn tuồng, hát chèo, chiềng rối (đầu rối bằng gỗ, hiện nay không còn vì bị Pháp đốt cháy). Cạnh đình là ông Từ Hạ (Thiên Quan). Đây là một trong năm ông Thiên Quan trấn ở năm góc làng.

Thăm đống Trọc, dinh quan huyện Quỳnh Côi xưa (theo Ngô Vi Liễn trong Địa dư huyện Quỳnh Côi thì năm 1890 lập tỉnh Thái Bình, năm 1894 mới chuyển huyện lỵ Quỳnh Côi lên thị trấn hiện nay), cạnh đó là ông lầu (miếu thờ thần Khách giữ của). Theo sử sách, cha Nguyễn Công Trứ làm tri huyện Quỳnh Côi, Nguyễn Công Trứ sinh ra và lớn lên ở Quỳnh Côi tới chừng 10 tuổi, cha mới chuyển sang làm tri phủ Tiên Hưng (nay là Đông Hưng, tỉnh Thái Bình), nên rất có thể Nguyễn Công Trứ đã sinh, sống thời thơ ấy tại đây; bến cầu Tre (bến Quỳnh Côi xưa). Cách đây chừng 60 năm, bến Quỳnh Côi còn tấp nập thuyền bè, nay đã bị san lấp, không còn dấu vết. Cạnh bến Quỳnh Côi là miếu thờ Thiên Quan.

Thăm miếu An Phú: Trước mặt miếu là con đường liên huyện xưa (sau khi Pháp đắp đường 216 thì đường này bị quên lãng), đi chừng 200 m là dấu tích cầu thượng gia hạ kiều Bát Nóc xưa, nay cũng không còn dấu vết. Tương truyền, cầu được dựng vào thời chúa Trịnh Giang.Thăm khu văn chỉ hàng huyện, thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền, nhưng đã bị phá cách đây 50 năm, nay là UBND xã và Thiên Quan đống Điện – một trong 5 điểm trấn giữ góc làng - với những cây duối cổ thụ.

15h00: Đi làng Xuân Trạch, thăm đình, chùa.

Làng này do hợp nhất làng Đồng Trạch và Thủy Cơ. Làng Thủy Cơ vốn là dân Gia Quất (Gia Lộc, Hải Dương) quê của danh tướng Yết Kiêu, được vua Trần cho phép xuôi theo các sông lập làm, khai thác thủy sản, riêng ở  khu vực Đồng Trạch thì họ có thêm một dải đất ven sông Hóa Khê (Quỳnh Côi) đựng đình thờ Yết Kiêu. Sông Hóa Khê trước đây còn cà ra, nhệch, rươi, nhưng sau khi Pháp làm đập Trà Linh và đập Hệ ở hạ lưu sông Diêm Hộ, thì không còn. Cách đây 50 năm, tới lễ hội, dân Thủy Cơ các nơi trong tỉnh Thái Bình đều kéo về đây tụ họ, nay tản mát lên bờ sinh sống. Đình Thủy Cơ bị phá, nên dân làng đã rước bài vị Yết Kiêu thờ chung với thành hoàng làng Đồng Trạch.

Đình Thủy Cơ mới được dựng lại, những năm 1940, nhưng đẹp nhất là lưu giữ được bức hoành phi chạm kênh bong và 6 đầu rối bằng gỗ, cổ kính. Đó là trò chiềng rối, không giống như rối nước, rối cạn. Trò này diễn ra vào 4/6 âm lịch và trước giao thừa hàng năm, nhưng nay đã thất truyền. Khi diễn, nghệ nhân (chỉ truyền cho con trai) cầm đầu rối huơ huơ, reo lên theo hiệu lệnh của trưởng cờ và ban nhạc. Trước đây, thôn An Phú có 8 đầu, Đồng Trạch có 6 đầu; đầu rối An Phú đã bị Pháp đốt cháy; chỉ còn Đồng Trạch; nhưng cũng không trình diễn đã 50 năm nay. Ngoài Quỳnh Côi, thì nghệ thuật chiềng rối có ở chùa Keo Thái Bình, chùa Keo Nam Định, chùa Đại Bi (Viêng chùa, Nam Trực, Nam Định) và chùa ở xã Việt Hùng (Vũ Thư, Thái Bình). Nhưng nếu như chùa Keo Thái Bình, Keo Nam Định, chùa Đại Bi gắn chiềng rối với tích thiền sư Không Lộ, thiền sư Từ Đạo Hạnh thì chiềng rối Quỳnh Côi lại gắn với vua Hồ Hán Thương. Tuy nhiên, nghe nói rằng, chỉ chùa Đại Bi còn giữ được đội chiềng rối, còn chùa Keo Thái Bình, Keo Nam Định chỉ còn bài ca chứ không còn người chiềng.Bên cạnh là chùa Nghinh Phúc. Tương truyền, chùa được xây thời Mạc, nhưng bị phá cách đây 40 năm, dân làng mới chuyển về ở nhà đất đình. Chùa vẫn còn một số hiện vật quý giá như: hai tấm bia hậu Phật thời Mạc, một tấm bia năm Chính Hòa nhà Lê, một số tượng cổ, trong đó có một pho tượng rất lạ (trông giống tượng Di Lặc, nhưng không giống với ở bất kỳ chùa khác).

16h00: Thăm chùa An Vệ, nơi lưu giữ tấm bia của Phạm Ngũ Lão. Tương truyền, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần 2, sau khi hội quân ở đền Đồng Bằng với Trần Hưng Đạo, ông đã hành quân qua khu vực này. Cách chùa An Vệ không xa là làng Và (xã Quỳnh Hội), quê hương của thượng tướng Đào Đình Luyện.

16h30 – 17h00: Về Không gian đọc An Phú, nghỉ ngơi, chia tay. Lên đường về Hà Nội, kết thúc hành trình./.

Tìm kiếm Tin tức
Bình chọn
Bạn thấy website của chúng tôi có ích cho bạn không?
Rất bổ ích
Tốt
Trung bình
Liên kết website
Thông tin thời tiết
Hà Nội 27
Tỷ giá ngoại tệ
Tỷ giá ngoại tệ
Ngoại tệ Bán ra
AUD 18735.2
CAD 19103.83
CHF 22312.68
DKK 3647.73
EUR 26849.44
GBP 34130.25
HKD 2761.11
INR 353.28
JPY 195.61
KRW 22.38
KWD 74591.43
MYR 6514.6
NOK 3211.2
RUB 544.69
SAR 5849.36
SEK 2912.82
SGD 16776.12
THB 667.26
USD 21295
Nguồn Vietcombank  
=== BẢN QUYỀN WEBSITE THUỘC VỀ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUỲNH PHỤ===
OWF 4.8 Developed by INGA Co.,Ltd.
Lên đầu trang